Đọc thơ Bác học cách viết của Người

Tháng Ba 17, 2016 3:13 chiều

ĐỌC THƠ BÁC

HỌC TẬP CÁCH VIẾT CỦA NGƯỜI

TRẦN ĐÌNH

 

BÁC HỒ, cha của chúng con, hồn của muôn hồn”. Câu thơ của Tố Hữu đã nói hộ lòng kính yêu đối với Bác của nhân dân ta và bè bạn trên thế giới. Bởi Người không những là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta, của non sông đất nước ta mà là danh nhân văn hóa thế giới. Đọc thơ Bác, chúng ta càng thấy sự vận dụng khéo léo tài tình chủ nghĩa Mác – Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và sự sáng tạo truyền thống văn hóa dân tộc của một bậc Đại nhân – Đại trí – Đại dũng. Chính vì thế những sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào tâm hồn của người đọc bằng cả sự đam mê và lòng  kính trọng. Ban Tư tuởng Văn hóa Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “ Người là ngọn cờ đầu, là người thầy, người chiến sĩ mở đường tiên phong trong sáng tạo nghệ thuật thơ ca, truyện, ký, kịch, chính luận và lý luận văn nghệ” (Tài liệu học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh trang 124). Với dung lượng bài viết này, tôi không dám đi sâu vào nghiên cứu mà nêu lên những suy nghĩ của mình khi đọc một số bài thơ của Bác và học tập cách viết của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn với phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo. Thơ Bác kết hợp một cách hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn và hiện thực. Bởi vậy nghiên cứu và học tập cách viết của Bác là một việc làm vô cùng quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.

Thơ Bác thường ngắn gọn, trong từng bài câu nào cũng gọn. Tính ngắn gọn đã tạo nên hiệu quả tuyên truyền rất lớn. Cho nên nói đến thơ Bác là nói đến sự kết hợp giữa văn nghệ và cách mạng. Tác phẩm của Người không những nói về vấn đề lớn của cuộc đấu tranh cách mạng, về tình hình nhiệm vụ mà còn đi vào những vấn đề cụ thể trong thực tế công việc hằng ngày. Những vấn đề cụ thể đó lại được chung đúc kinh nghiệm cả cuộc đời đấu tranh cách mạng của Bác, của nhân dân ta, của nhân dân thế giới.

Điều mà chúng ta dễ nhận thấy trong thực tế, khẩu hiệu và thơ vẫn thường kị nhau. Thơ nặng về tính biểu cảm, khẩu hiệu nặng về cổ vũ hành động, thế mà trong những sáng tác của Người, khẩu hiệu đã đi vào thơ một cách tự nhiên. Bài thơ chúc tết  năm 1947, Bác viết:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng

Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi.

Thống nhất độc lập, nhất định thành công.

Cả bài phơi phới một niềm vui lớn, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hăng hái kháng chiến chống thực dân Pháp. Hay ở bài thơ chúc tết năm 1949, Bác lại đưa không khí ngày hội vào thơ:

Người người thi đua

Ngành ngành thi đua

Ta nhất định thắng

Địch nhất định thua

Lời thơ mang âm hưởng thôi thúc mà ung dung như là bước đi của cuộc sống trên đất nước ta trong tình hình cách mạng lúc bấy giờ. Với những câu thơ giản dị, dễ hiểu Bác đã kết hợp một cách tài tình giữa văn nghệ với cách mạng. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra cho chúng ta, những người cầm bút là phải bám sát thực tiễn cách mạng của cả nước, của địa phương để sáng tạo những tác phẩm có giá trị đích thực, nhằm đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống nhân dân.

Bên cạnh việc học tập phong cách gắn văn nghệ với cách mạng, chúng ta thấy nét độc đáo trong thơ Bác là sự kết hợp giữa thi pháp cổ điển với hiện đại. Điều đó thể hiện rất rõ trong nhiều tác phẩm của Người, đặc biệt bài “Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng)

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Nhà thơ Xuân Thủy dịch:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngâm đầy thuyền.

Bài thơ viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi, có đầy đủ yếu tố của một bài thơ cổ, đó là hình ảnh một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói trên dòng sông xuân. Điệu thơ lại nhẹ nhàng, gợi lên một không gian bao la, yên tĩnh. Một điều khác so với bài thơ Đường là giữa cái khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng đó, nhà thơ không có rượu, không có hoa để có cảm hứng sáng tác mà là công việc “đàm quân sự”, một công việc vô cùng quan trọng đối với vận mệnh của Tổ quốc. Như thế quả là một cảm hứng mà trong thơ ca của các bậc tiền nhân không hề tìm thấy. Đây chính là sự kết hợp giữa thi pháp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí minh.

Bên cạnh thi pháp cổ điển và hiện đại, “Nguyên tiêu” còn là bài thơ được kết hợp một cách độc đáo giữa yếu tố lãng mạn và hiện thực. Ánh trăng ngay từ nhan đề bài thơ như lan tỏa đến từng câu, từng chữ, tạo nên một phong cảnh thiên nhiên thoáng đãng, hình ảnh Bộ Chính trị hiện lên trong khung cảnh ấy thật hoành tráng và ung dung.

Đọc thơ Bác, chúng ta còn học tập ở Người cách vận dụng thơ ca dân gian, sản phẩm của ngôn ngữ truyền thống vào trong thơ một cách nhuần nhuyễn. Bài thơ gửi các cháu thiếu niên và nhi đồng năm 1951 Bác viết:

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Hỏi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung

Và bức thư năm 1953:

Thư này Bác gửi thư chung

Bác thăm các cháu khắp vùng gần xa

Thu này hơn hẳn thu qua

Kháng chiến thắng lợi gấp ba bốn bốn lần

Đọc lên chúng ta nghe âm hưởng như những bài ca dao, ngôn ngữ thơ thật bình dị, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và ấm áp lạ thường.

Chúng ta không thể nói hết được tính đa phong cách trong thơ của Bác. Mặc dù trong quá trình sáng tác, Người không xem mình là nhà văn, nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ, người yêu văn nghệ. Bác xem việc sáng tác nghệ thuật là để phục vụ cách mạng. Nhưng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc, Người đã sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị lớn trong kho tàng văn học nước nhà và văn học thế giới.

Càng đọc thơ Bác, học phong cách viết của Bác, chúng ta càng cảm thấy như đứng trước chân trời mới lạ, đầy hấp dẫn. Bởi mỗi tác phẩm của Bác mặc dù ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào nhưng đến nay những sáng tác đó vẫn còn nguyên giá trị nghệ thuật lớn, tầm tư tưởng lớn.

Đọc thơ Bác, học phong cách sáng tác của Bác, chúng ta càng thấm nhuần lời dạy của Người: “Văn học nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ phải là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Đảng ta cũng yêu cầu văn nghệ sĩ: “Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của dân tộc, của đất nước, và tác phẩm đó phải phản ánh cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn sự nghiệp cách mạng của nhân dân, đó là một đòi hỏi đồng thời là một nguyện vọng trông chờ sâu xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp văn nghệ và đối với đội ngũ văn nghệ cách mạng của chúng ta” (Tài liệu học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh).