CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CHO HỌC SINH

Tháng Ba 19, 2021 10:20 chiều

 

Trong chương trình Tiếng Anh thí điểm (TATĐ) lớp 6, 7, 8, 9 đều có một số phần dành cho luyện tập nói: phần Speak, Communication hoặc Project tuy nhiên phần lớn là giáo viên (GV) cho nói cá nhân hoặc cặp. GV ít cho thảo luận trong nhóm vì sợ mất thời gian, sợ lớp ồn và chỉ có một số em khá giỏi chịu nói.

Học sinh (HS) nói cá nhân mang tính rời rạc, nội dung không sâu. Luyện kỹ năng nói chỉ tập trung rèn cho HS nói từng câu trôi chảy. GV mất nhiều thời gian để chờ các em nói. Thường phần nói nằm ở giai đoạn gần cuối bài, nói về nội dung bài vừa học hoặc ý kiến cá nhân về vấn đề trên nên đôi khi HS khá, trung bình khi chưa hiểu rõ được bài học cũng e ngại không dám phát biểu.

Kiểm tra đánh giá cũng mang tính cá nhân riêng lẽ như: kiểm tra đầu giờ bằng cách kiểm tra từ vựng, nhắc lại nội dung bài cũ, trình bày lại mẫu đối thoại đã học, …làm cho quá trình dạy và học mang nặng tính lý thuyết, và tạo tâm lý căng thẳng cho GV và HS.

HS không được rèn luyện kỹ năng nói thường xuyên, không có môi trường luyện thuyết trình nên các em sợ khi phải trình bày trước đám đông một vấn đề ở cả Tiếng Anh lẫn Tiếng Việt. Từ đó khiến các em sợ học Tiếng Anh nhất là sợ học và kiểm tra nói Tiếng Anh.

  1. Mục đích của giải pháp:

Trong việc học ngoại ngữ nói chung và TA nói riêng ngày nay không chỉ là học để biết kiến thức về ngôn ngữ, biết về văn hóa, nét đặc trưng của một dân tộc mà còn là tập trung phát triển cho HS kỹ năng nghe nói-nhất là kỹ năng nói, kỹ năng trình bày trước đám đông để đáp ứng được việc sử dụng ngoại ngữ trong tương lai, hướng tới mục tiêu đổi mới kiểm tra đánh giá theo năng lực của từng người học, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, thực hiện các dự án học tập. Cùng với việc phát triển kỹ năng nói HS còn cần phải luyện tập được kỹ năng giao tiếp, tự tin thể hiện bản thân.
Trong quá trình tham gia giảng dạy bộ sách giáo khoa thí điểm 6,7,8,9 chúng tôi nhận thấy được một số hoạt động tích cực có thể sử dụng và chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng, có mở rộng, sáng tạo thêm các hoạt động nhằm phát triển cũng như kiểm tra đánh giá được kỹ năng nói của HS phù hợp với điều kiện dạy học và trình độ của HS đang học chương trình này nhằm giúp các em phát huy được tích cực chủ động sáng tạo và phát triển được kỹ năng làm việc trong nhóm, thuyết trình và sử dụng ngôn ngữ cho các em. Hơn nữa, HS các lớp thí điểm tuy các em có chất lượng đầu vào theo trình độ quy định nhưng khả năng tiếp thu và đặc điểm tâm lý lứa tuổi của các em khác nhau cũng làm giảm chất lượng học bộ môn nhất là kỹ năng nói (các em càng lớn các em càng có nhiều ý tưởng hay và sáng tạo nhưng lại càng e ngại nói vì sợ sai) nên người GV phải sáng tạo nhiều hoạt động phù hợp để phát huy khả năng của các em đồng thời duy trì được chất lượng bộ môn.

  1. Nội dung giải pháp: Phát huy hiệu quả của hoạt động nhóm trong việc phát triển kỹ năng nói cho học sinh các lớp Tiếng Anh.

Các hoạt động nhóm này thể hiện tính mới hoàn toàn trong quá trình dạy, học và kiểm tra đánh giá kỹ năng nói của học sinh học chương trình TATĐ  và có nhiều hiệu quả thể hiện qua bảng so sánh sau:

Hoạt động phát triển kỹ năng nói trước đây. Hoạt động phát triển kỹ năng nói mới
* Đối với HS:

– HS chủ yếu làm việc riêng lẽ để chuẩn bị đề tài: nội dung rời rạc, không sâu.

– HS không thể trao đổi, không tự tin về nội dung mình chuẩn bị.

– Khả năng của mỗi HS khác nhau. Phân định rõ HS giỏi, yếu,….

– Không phát huy hết được khả năng của từng em: tính khéo léo, sáng tạo và khả năng hùng biện.

– HS trình bày với tính chất đối phó, lớp học trầm và căng thẳng

– HS học một cách thụ động, không phát triển được kỹ năng giao tiếp.

– HS giỏi chỉ tự học cho bản thân không có tinh thần giúp đỡ bạn và thiếu kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng tổ chức công việc trong nhóm.

– HS chỉ tập trung rèn kỹ năng nói khi chuẩn bị thi học kỳ nên các em rất lúng túng và nội dung không được đầu tư đúng mức.

* Đối với GV:

– GV và HS mất nhiều thời gian trong việc chờ HS trình bày nhất là đối với các em trung bình, yếu.

– GV rất khó đánh giá, cho điểm và không thể động viên các em.

– Các hoạt động thường mang tính rập khuôn: đối thoại, trình bày chủ đề, nhắc lại nội dung bài cũ,…không thu hút được HS tham gia.

– Chưa tạo được môi trường giao tiếp thật sự: trình bày, phản biện, kết luận,..Phần trình bày không thu hút được người nghe dễ gây nhàm chán và không có sự tương tác.

– Đánh giá, cho điểm chung chung vội vàng chưa đánh giá sát được chất lượng.    *Đối với HS:

– HS được làm việc trong nhóm: 4-5 HS, các em có thời gian chuẩn bị nên khai thác chủ đề sâu hơn, toàn diện hơn. Từ đó HS tự tin hơn về nội dung mình chuẩn bị trình bày.

– HS giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành sản phẩm của nhóm: không phân biệt giỏi, yếu.

– HS phát huy hết được khả năng của mình: tính khéo léo, sáng tạo, tự chủ trong việc trình bày sản phẩm và thể hiện rõ khả năng hùng biện. Từ đó giúp GV phát hiện năng khiếu của HS để bồi dưỡng, đồng thời phát hiện được các em còn hạn chế để hướng dẫn và rèn luyện thêm. Điều này rất quan trọng vì đây là yếu tố quyết định đến sự thành công trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ.

– Tạo không khí tự nhiên, vui tươi sinh động làm cho tiết nói trở nên nhẹ nhàng và có chất lượng. HS tự tin và tích cực hơn trong hoạt động, nhất là các em nhút nhát, e ngại nói trước đám đông cũng dần tích cực hơn, mạnh dạn hơn.

– HS có tinh thần trách nhiệm trong công việc được phân công. Nhóm trưởng được rèn luyện kỹ năng điều động nhóm, sắp xếp, phân công công việc của các thành viên. Từ đó giúp hoạt động nói được thực hiện nhịp nhàng và hiệu quả.

– HS được rèn luyện kỹ năng nói thường xuyên nên các em sẽ thực hiện tốt các bài kiểm tra thực hành nói định kỳ và thi học kỳ. Giúp HS có dịp trãi nghiệm, rút kinh nghiệm cho các sản phẩm sau.

* Đối với GV:

– GV chấm sản phẩm nhóm trước nên phần đánh giá sát hơn và HS có sự chuẩn bị tốt giúp GV chấm phần thực hành nói chính xác hơn. Điểm số chia làm hai phần nên mang được tính vừa có chất lượng vừa mang tính động viên đối với các em còn nhút nhát, giúp các em lần sau phấn đấu hơn.

– Đa dạng được các hoạt động: làm Project, Discussion (thảo luận) về đề tài, diễn kịch, biểu diễn thời trang, phỏng vấn,…

– Tạo được môi trường giao tiếp thật sự từ khâu tạo ra sản phẩm đến thuyết trình rồi phản biện (trả lời câu hỏi của các HS khác và GV),…thể hiện sự tương tác rõ giữa các thành viên trình bày, người nghe (HS khác) và người đánh giá (GV).

– Đánh giá, cho điểm theo tiêu chí và thang điểm rõ ràng, cụ thể nên tạo được độ tin cậy cao.

  1. Giải pháp cụ thể:

Tiến trình thực hiện gồm 3 giai đoạn chính:

  1. Học sinh thực hiện dự án/ sản phẩm:

– Gíáo viên thống nhất về chủ đề mà các em sẽ thực hành nói trong giai đoạn bài học (3,4 chủ đề), gợi ý học sinh nhắc lại nội dung chính của các chủ đề, mục tiêu cần đạt được trong chủ đề và cách trình bày (Posters, Powerpoint hoặc cả hai).

– Gíáo viên chia HS làm thành nhiều nhóm cho lớp từ 4-5 HS, mỗi nhóm cử một nhóm trưởng và cho nhóm bốc thăm chủ đề.

– Nhóm trưởng điều động nhóm thảo luận để thống nhất cách thể hiện sản phẩm nội dung cần có trong sản phẩm và cách thức trình bày. Phân công công việc trong nhóm, lưu lại biên bản để theo dõi, đôn đốc và nộp cho giáo viên khi nộp sản phẩm.

– Thời gian học sinh chuẩn bị là một tuần: đây là thời gian để HS hoàn thành sản phẩm và chuẩn bị thuyết trình.

– GV hỗ trợ các nhóm khi cần thiết.

– Học sinh nộp sản phẩm trước một ngày để giáo viên có bước đánh giá ban đầu về sản phẩm, góp ý nhằm giúp các em hoàn chỉnh sản phẩm tốt hơn trước khi trình bày.

  1. Học sinh trình bày sản phẩm:

* Nhóm thuyết trình sản phẩm:

– Thời gian không quá 5 phút.

– Nhóm trưởng bốc thăm thứ tự trình bày.

– Nhóm trưởng điều động nhóm thực hiện theo thứ tự.

– Từng nhóm lên thuyết trình về sản phẩm. Lưu ý về nội dung chủ đề, kiến thức ngôn ngữ (từ vựng, phát âm, ngữ điệu,…), khả năng trình bày thuyết trình, sự sáng tạo, chủ động xử lý tình huống phát sinh của học sinh ,…

– Các thành viên của nhóm thể hiện sự tương tác, gắn kết nội dung với nhau (có phần giới thiệu nhóm, chủ đề)

– Nhóm thuyết trình trả lời câu hỏi.

– GV theo dõi ghi nhận để có nhận xét và đánh giá chính xác.
* Nhóm  học sinh theo dõi thuyết trình:

– HS theo dõi quá trình nhóm bạn trình bày. Điều này giúp các em mở rộng thêm kiến thức ngoài nội dung chủ đề mà nhóm các em thực hiện, đồng thời để các em có thể đặt câu hỏi cho phù hợp sau khi nhóm bạn trình bày xong.

– Vận dụng kiến thức đã học để theo dõi và đặt câu hỏi theo chủ đề  mà các nhóm bạn trình bày (có thể đặt câu hỏi cho cá nhân hoặc cho cả nhóm)

– HS đánh giá được những ưu điểm và hạn chế của nhóm mình và của nhóm bạn để rút kinh nghiệm các lần sau làm tốt hơn.

* Giáo viên:

– GV bao quát lớp theo dõi việc HS trình bày sản phẩm, nhóm HS đặt câu hỏi và nhóm HS trình bày trả lời câu hỏi để có nhận xét hoặc điều chỉnh cho hợp lý.

  1. Đánh giá, nhận xét và ghi điểm của giáo viên:

Đánh giá, nhận xét cho điểm trên sản phẩm và thuyết trình

– Đánh giá sản phẩm: GV dựa vào các tiêu chí và thang điểm đã quy định với HS để đánh giá các sản phẩm nộp của các em. Lưu ý về nội dung hình ảnh, bài viết; bố cục; cách trang trí.

– Đánh giá về phần thuyết trình: lưu ý về thời gian, sự tương tác các thành viên trong nhóm, mức độ mạch lạc về ngôn ngữ, nội dung, ngữ pháp, từ vựng,…Và phong cách trình bày của nhóm, của từng cá nhân.

– Đánh giá mức độ tham gia của học sinh trong nhóm về sản phẩm cũng như phần trình bày của từng thành viên trong nhóm để ghi điểm cho học sinh. Đối với các thành viên còn chậm và yếu trong phần trình bày GV có thể đặt vài câu hỏi nhỏ hơn để giúp HS trả lời tạo cơ hội cho các em sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.

  1.  Khả năng áp dụng của giải pháp:

Vận dụng rất tốt cho các dạng bài phát triển kỹ năng nói hoặc là kiểm tra thực hành nói.
Đối tượng nghiên cứu và vận dụng điển hình: HS học TA thí điểm 6, 7, 8, 9.
Ngoài ra có thể sử dụng mô hình này cho cả học sinh học chương trình Tiếng Anh đại trà cấp trung học cơ sở với yêu cầu thấp hơn.

Ngoài ra giáo viên cũng có thể dùng cách thức và mẫu đánh giá này cho hoạt động thực hành thường xuyên và đánh giá bài Project của HS sau mỗi đơn vị bài học để HS được luyện tập kỹ năng làm sản phẩm và kỹ năng trình bày thường xuyên hơn điều này giúp cho các em phát triển được kỹ năng nói góp phần đạt chất lượng cao trong bài kiểm tra thực hành và thi nói ở cuối học kỳ.

5 .  Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp:

Qua việc áp dụng kỹ năng nói của HS tại lớp học chúng tôi nhận thấy kết quả sử dụng đề tài “Phát huy hiệu quả của hoạt động nhóm trong việc phát triển kỹ năng nói cho học sinh các lớp Tiếng Anh thí điểm” đạt được hiệu quả cao. HS ngày càng hiểu rõ ý nghĩa của sản phẩm do mình làm ra, tự tin hơn trong trình bày trước đám đông. Các em ngày tiến bộ, sáng tạo hơn khi hoàn thành sản phẩm và thuyết trình.
GV có thể nắm được ngay kết quả bài học và kết quả việc rèn luyện kỹ năng nói của HS để từ đó có hướng dẫn xây dựng cho HS ngày càng hoàn thiện hơn.
Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần làm việc tập thể. HS có trách nhiệm hơn trong công việc được phân công.

Học sinh mạnh hơn và tích cực hơn trong hoạt động, nhất là các em nhút nhát, e ngại nói trước đám đông cũng dần tích cực hơn, mạnh dạn hơn, rèn luyện kỹ năng được thường xuyên hơn Các em cảm thấy nói Tiếng Anh không còn là vấn đề khó nữa.
Tạo không khí tự nhiên, vui tươi sinh động làm cho tiết kiểm tra hoặc thự hành trở nên nhẹ nhàng không còn căng thẳng nữa.

Đa dạng dạng hóa loại hình kiểm tra, đánh giá không nhất thiết phải là phải là bài kiểm tra giấy, căng thẳng mà là tăng cường tính tự nhiên, thực tiễn, trải nghiệm, sáng tạo, tăng khả năng tự học tự nghiên cứu. Giúp HS thực hiện tốt hơn các bài thi nói và thi viết cuối học kỳ.

Hoàng Thị Liên