SKKN BDHSG SỬ 9

Tháng Mười Một 15, 2019 11:30 chiều

PHẦN I: MỞ ĐẦU

  1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong hệ thống giáo dục ở trường THCS, môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng thế hệ trẻ về kiến thức, văn hóa, tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức và phong cách sống. Lịch sử cũng như các môn học khác, có vai trò to lớn trong việc tác động đến con người không chỉ về trí tuệ mà còn cả về tư tưởng, tình cảm. Giúp các em thấy được quá trình phát triển của một đất nước, một dân tộc mà rộng hơn là cả xã hội loài người, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa học. Nhưng trong thực tế hiện nay việc dạy – học môn Lịch sử chưa hoàn thành tốt vai trò của mình. Ở nhiều nơi, giáo viên vẫn chủ yếu dạy học bằng phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên lo truyền đạt hết những nội dung trong sách giáo khoa, còn học sinh cố gắng chép được những nội dung mà thầy cô đọc cho chép. Do đó trong thực tế giảng dạy giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, chưa gây hứng thú cho học sinh. Về phía học sinh, chưa chú tâm học tập, nhiều em vẫn cho rằng học môn Lịch sử phải ghi nhớ quá nhiều sự kiện khô khan, Lịch sử là môn học nghiên cứu về quá khứ, mà quá khứ là những cái đã qua không thể thay đổi nên chỉ cho quá khứ chứ không áp dụng vào thực tiễn. Muốn khắc phục được vấn đề này thì việc gây hứng thú học tập cho học sinh là điều không thể thiếu trong giờ học Lịch sử. Vì thế đổi mới phương pháp sử dụng thiết bị dạy học Lịch sử ở trường THCS là việc làm vô cùng cần thiết, để thông qua đó giáo viên dễ hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh hoặc giúp các em nhớ lâu, nhớ kĩ nội dung của bài.

Hiện nay nghành giáo dục vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực chủ động, tìm tòi, khám phá, lĩnh hội kiến thức mới. Vì vậy, mỗi giáo viên cần có sự chủ động, sáng tạo tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Hòa chung trong xu thế phát triển của xã hội ngày nay, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy là một việc làm rất cần thiết và mang tính tất yếu, góp phần rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất cần thiết của người công dân trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc sử dụng đồ dùng trực quan phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Và đối với bộ môn Lịch sử, sử dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy là một việc làm rất cần thiết, giúp các em dễ hình dung lại sự phát triển của xã hội loài người và gây hứng thú học tập cho học sinh.

Vậy, làm thế nào để học sinh có hứng thú trong giờ học Lịch sử? Đó là câu hỏi mà mỗi thầy giáo, cô giáo luôn trăn trở trước khi lên bục giảng. Xuất phát từ thực tế và những điều kiện sẵn có của nhà trường, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh  nghiệm :

Sử dụng đồ dùng trực quan điện tử trong giờ học Lịch sử lớp 9″.

  1. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
  2. Mục đích:

Một trong những phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch sử là phải gây được hứng thú, phát huy được tính tích cực học tập của học sinh đó là sử dụng đồ dùng, công cụ dạy học đúng mục đích, yêu cầu của việc nhận thức. Ở đây người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng giúp học sinh sử dụng đúng có hiệu quả theo nội dung của bài học. Bởi dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin  rất phong phú, đa dạng và sinh động như: hình ảnh, sơ đồ, lược đồ, băng hình…do đó người thầy phải giúp học sinh khai thác đúng nội dung. Từ đó các em có được sự hứng thú trong học tập và phát huy được tính sáng tạo, phát triển khả năng tư duy, hình  thành các kỹ năng và bồi dưỡng tình cảm thông qua việc nắm bắt các sự kiện, hiện tượng. Giúp giáo viên và học sinh nhận thức đúng vai trò, vị trí của bộ môn Lịch sử trong nhà trường trung học cơ sở. Ứng dụng công nghệ thông tin  trong dạy học Lịch sử tạo hứng thú hơn cho học sinh trong học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

  1. Nhiệm vụ:

Nghiên cứu một số vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài: tìm hiểu chức năng, phương pháp, vị trí, nhiệm vụ của bộ môn, thái độ tư tưởng của học sinh đối với bộ môn…

Đề xuất một số giải pháp góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh khi ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn.

III. PHẠM VI  VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu và đưa ra một số kinh nghiệm trong tổ chức dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong học tập bộ môn Lịch sử.

Ứng dụng công nghệ thông tin  trong dạy học Lịch sử ở lớp 9 trường THCS Quảng Long.

  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Khi nghiên cứu đề tài này tôi áp dụng phương pháp thực nghiệm qua thực tế áp dụng vào quá trình học kết hợp với, phân tích, nhận xét.

– Phương pháp quan sát: Người thực hiện đề tài tự tìm tòi nghiên cứu, tiến hành dự giờ thăm lớp  của đồng nghiệp.

– Phương pháp trao đổi, thảo luận: Sau khi dự giờ của đồng nghiệp, có thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ giảng để  tiến hành trao đổi, thảo luận để từ đó rút ra những kinh  nghiệm cho tiết dạy.

– Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành dạy thể nghiệm theo  mục đích yêu cầu của  tiết học.

–  Phương pháp điều tra: Giáo viên kiểm tra việc tiếp thu kiến thức của học sinh qua giờ học để có những điều chỉnh phù hợp.

  1. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Thực hiện thường xuyên trong quá trình giảng dạy ( Từ tháng 8/2019 – tháng 5/2020), đặc biệt là những bài có nhiều kênh hình, lược đồ và cần thiết những đoạn phim minh hoạ. Ứng dụng sơ đồ điện tử để củng cố bài học và bản đồ động  minh hoạ diễn biến.

PHẦN II: NỘI DUNG

  1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Sự đổi mới của mục tiêu giáo dục và nội dung giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh.

Đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học các môn học nói chung, phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng đã được đặt ra và thực hiện một cách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục chung của thế giới. Luật giáo dục sửa đổi đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.

Tồn tại ở trường trung học cơ sở với tính cách là một khoa học, bộ môn Lịch sử có tác dụng nhất định đến việc hình thành thế giới quan, tình cảm đạo đức, phát triển năng lực nhận thức và hành động … cho học sinh. Tuy nhiên, hiện nay chất lượng giảng dạy và học tập môn Lịch sử chưa thực sự làm cho xã hội an tâm. Vì thế việc đổi mới một cách toàn diện về nội dung lẫn phương pháp dạy học Lịch sử là  vô cùng cần thiết. Trong một vài năm gần đây, phương pháp dạy học mới đã và đang được nghiên cứu, áp dụng ở trường trung học cơ sở như: dạy học nêu vấn đề, dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin…Tất cả đều nhằm mục đích tích cực hoá hoạt động của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

Đặc biệt việc sử dụng công nghệ tin học để xây dựng bài giảng điện tử (hay giáo án điện tử) các môn nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, được xem là một trong những công cụ đem lại hiệu qủa tích cực trong việc đổi mới dạy và học. Thực hiện giáo án điện tử hay bài giảng điện tử giáo viên cần có sự hỗ trợ của máy tính. Toàn bộ kế hoạch lên lớp của giáo viên phải được lập trình sẵn. Các hoạt động dạy và học được thiết kế hợp lý trong một cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các công cụ đa phương tiện bao gồm: các văn bản hình ảnh, âm thanh, phim minh hoạ để chuyển tải tri thức và điều khiển người học. Khi lên lớp bằng bài giảng điện tử, giáo viên phải thực hiện một bài giảng với toàn bộ hoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong bài giảng điện tử.

Việc giảng dạy bằng bài giảng điện tử có những ưu điểm của nó. Đối với giáo viên, tuy phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị một bài giảng điện tử nhưng việc dạy học lịch sử bằng bài giảng điện tử giúp giáo viên hạn chế bớt phần thuyết giảng, có thời gian thảo luận và tăng cường kiểm soát đối với học sinh. Bài giảng điện tử giúp đa dạng hoá việc cung cấp kiến thức cho học sinh thông qua các công cụ  trình diễn, người giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một khối lượng hình ảnh, phim tài liệu lịch sử… liên quan đến nội dung bài học lịch sử mà học sinh được học, như vậy mà giờ học trở nên sôi nổi và sinh động hơn. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy bằng bài giảng điện tử cũng không tránh khỏi những bất cập mà bản thân giáo viên nào cũng phải tìm cách khắc phục… Đối với học sinh, việc học tập lịch sử thông qua bài giảng điện tử tạo nhiều hứng thú cho các em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự  kiện lịch sử và bài học lịch sử sống động hơn, gần với quá khứ hơn. So với những bài giảng thông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử học sinh đã được trực quan sinh động với những sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể  giúp  kích thích quá trình tư duy của học sinh, từ đó nội dung kiến thức lịch sử học sinh thu thập đủ  hơn và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em.

  1. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Xuất phát từ thực tiễn dạy và học bộ môn Lịch sử của giáo viên và học sinh với phương pháp dạy học cũ, thụ động, chưa tích cực trong học tập. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin  giáo viên áp dụng vào dạy học nhiều nhưng kết quả chưa cao. Nhiều giáo viên chỉ biết đưa ra những hình ảnh nhưng không biết khai thác hình ảnh đó như thế nào, hoặc chưa biết làm các hiệu ứng khi dạy các kiểu bài có lược đồ, sơ đồ, chiến dịch ….có hiệu quả. Qua việc tiếp cận công nghệ thông tin  tôi luôn luôn tìm tòi, khám phá, học hỏi các bạn đồng nghiệp để làm sao cho bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin đạt được hiệu quả cao nhất, gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.

Đối với học sinh, nhiều em vẫn cho rằng đây là môn “phụ” do đó không phải đầu tư nhiều thời gian, các giờ có ứng dụng công nghệ thông tin các em chỉ ngồi xem hình ảnh, xem phim… Từ thực tế như vậy, yêu cầu giáo viên phải có phương pháp đúng để gây được hứng thú học tập đối với học sinh.

III: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS  QUẢNG LONG:

  1. Ưu điểm

Mặc dù có những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình giảng dạy nhưng chúng tôi đã biết khắc phục vượt lên những khó khăn trước mắt, từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy môn lịch sử nhằm đáp ứng mục đích chương trình học.

a- Về phía giáo viên:

– Bước đầu đã tiếp cận sử dụng tương đối tốt các kỹ thuật dạy học đặc trưng bộ môn.

– Đã quen và chủ động với cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.

– Phối hợp khá linh hoạt các kỹ thuật dạy học.

– Sáng tạo ra nhiều đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung các tiết dạy, đã thiêt kế các bài dạy bằng giáo án điện tử, vì vậy nhiều tiết dạy lịch sử trở nên sinh động , có sức lôi cuốn .

– Sử dụng vận hành các trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ tốt cho quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy…

b- Về phía học sinh:

– Học sinh đã được quen dần  với môn học có ứng dụng công nghệ thông tin.

– Phần lớn học sinh có ý thức học tập và yêu thích môn Lịch sử tích cực thực hiện được các yêu cầu, bài tập của giáo viên sau giờ học.

  1. Những tồn tại:

Như chúng ta đã nói ở trên, lịch sử là một môn học đặc thù. Kiến thức lịch sử là kiến thức về quá khứ. Có những sự kiện đã diễn ra cách ngày nay hàng trăm, hàng ngàn năm thậm chí lâu hơn. Yêu cầu bộ môn đòi hỏi, khi nhận thức học sinh phải tái hiện những sự kiện, hiện tượng đó một cách sống động như đang diễn ra trước mắt mình. Bên cạnh đó, khả năng tư duy của học sinh THCS còn hạn chế nên việc sử dụng phương tiện trực quan để giúp học sinh tái hiện là một nguyên tắc trong dạy học lịch sử. Trong lúc đó, các phương tiện trực quan phục vụ dạy học lịch sử hiện nay còn nhiều hạn chế. Phương tiện vừa thiếu lại vừa không phù hợp. Thử lấy ví dụ về hệ thống bản đồ, chúng ta có thể khẳng định một điều rằng hệ thống bản đồ và tranh ảnh lịch sử trong danh mục đồ dùng do Bộ giáo dục phát hành là không đủ cho các bài dạy. Bên cạnh đó kênh chữ và các kí hiệu quá nhỏ không thể sử dụng được, thậm chí có một số bản đồ còn mâu thuẫn với kiến thức ở sách giáo khoa (Lược đồ các phong trao cách mạng ở lớp 9). Các tranh ảnh ở sách giáo khoa màu sắc còn đơn điệu và thiếu đồng bộ, chưa kể đến phim tài liệu thì hầu như không có. So với yêu cầu đặt ra của bộ môn và định hướng đổi mới phương pháp trong giai đoạn hiện nay thì có thể nói rằng : những phương tiện dạy học không đáp ứng được yêu cầu và không thể tạo nên hứng thú học tập cho học sinh.

  1. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
  2. Mục đích của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy lịch sử

Hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và thiết kế bài dạy học bằng công nghệ thông tin. Việc sử dụng công nghệ hiện đại đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng thiết kế giáo án và sử dụng những phương pháp truyền đạt mới. Thay vì phấn trắng bảng đen truyền thống, việc ứng dụng công nghệ thông tin làm cho bài giảng được thực hiện một cách sinh động, gây hứng thú và phát huy được tính tích cực của cả giáo viên và học sinh. Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là mang lại một lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến người học. Nguyên tắc trực quan trong dạy học Lịch sử đóng vai trò quan trọng, nó làm cho học sinh hứng thú và nhận thức một cách chính xác các sự kiện quá khứ và ghi nhớ lâu hơn.

Việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính bằng những hình ảnh tư liệu, sơ đồ, lược đồ, đoạn phim minh hoạ tái hiện lại quá khứ giúp bài giảng thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú cho học sinh. Hỗ trợ học sinh trong việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của nội dung bài học. Học sinh hứng thú hơn trong giờ học bởi các em có thể được sống lại cùng lịch sử qua các hình ảnh tư liệu…tạo điều kiện cần thiết cho học sinh thực hành để hình thành và rèn luyện các kỹ năng cho học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trợ giúp cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh học kiến thức mới, phát huy tính tìm tòi, khám phá của học sinh. Ví dụ tiết học lịch sử về các nền văn minh, các giá trị văn hoá, các cuộc chiến đấu… giáo viên có thể sử dụng hình ảnh, phim tư liệu, các bản đồ điện tử… để minh họa, chắc chắn sẽ tạo được ấn tượng mạnh mẽ cho các em. Chính những điều này sẽ thổi một luồng gió mới vào lớp học, vào nhiệt huyết nghề nghiệp của giáo viên và vào cả tinh thần hăng say học tập của học sinh để mang lại hiệu quả giáo dục cao.

  1. Yêu cầu của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy lịch sử

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, đối với mỗi giáo viên phải có sự thích ứng, sáng tạo trong vận dụng công nghệ thông tin trong các bài giảng lịch sử. Tuy nhiên không phải bài nào cũng ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả. Bởi trong thực tế hiện nay nhiều giáo viên quá lạm dụng vào việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, dạy tràn lan không định hướng được kiến thức cần nắm cho học sinh. Giáo viên phải dựa vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng và rèn kĩ năng để sử dụng đạt mục đích đề ra. Vì thế giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ bài dạy, ứng dụng công nghệ thông tin mang lại hiệu quả cao nhất cho người học.

Để xây dựng bài giảng điện tử, trước hết giáo viên phải xác định được công nghệ thông tin chỉ là công cụ hỗ trợ hữu ích cho dạy học. Giáo viên tránh đưa ra nhiều hình ảnh màu sắc lòe loẹt  hoặc những thước phim tư liệu quá dài khiến học sinh chỉ chú ý đến việc xem mà không phát huy được sự chủ động, tích cực tư duy. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin hình thành kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử còn làm cho giờ học trở nên sinh động, không bị khô khan, tẻ nhạt, lôi cuốn được học sinh tham gia học tập tích cực, chủ động, tạo cho các em động cơ và không khí  học tập thoải mái. Đây là nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức khoa học lịch sử một cách hiệu quả, qua đó giáo dục và phát triển toàn diện học sinh và nâng cao chất lượng.

Khi sử dụng những bức ảnh lịch sử có kích thước nhỏ, giáo viên phải đi xuống lớp hướng dẫn học sinh quan sát, sử dụng lược đồ treo tường giáo viên phải mất công treo, hoặc nếu lập niên biểu, vẽ sơ đồ, đồ thị lịch sử trên bảng đen thì giáo viên cũng mất khá nhiều thì giờ, trong khi đó độ chuẩn xác và tính thẩm mĩ lại không cao. Ngược lại, nếu giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào chuẩn bị bài giảng ở nhà từ trước, những công việc này khi dạy học trên lớp sẽ giúp giáo viên đỡ vất vả và đơn giản hơn rất nhiều, thời gian được tiết kiệm tối đa mà tính trực quan, thẩm mĩ lại cao.  Ở đây, giáo viên chỉ cần “nhấn chuột” để trình chiếu và hướng dẫn học sinh khai thác nội dung kiến thức “ẩn” trong mỗi hình ảnh, kênh hình sẽ được phóng to trên màn hình lớn đủ để học sinh cả lớp quan sát. Những mũi tên chuyển động khi tường thuật về một trận đánh, hướng tấn công, hoặc việc sơ đồ hóa các mốc thời gian quan trọng, cụ thể hóa cho đối tượng cần miêu tả trên màn hình lớn kèm theo lời trình bày sinh động của giáo viên sẽ có tác động lớn tới tâm lí học sinh, các em cảm thấy học tập hứng thú hơn, hiệu quả ghi nhớ kiến thức tốt hơn. Với đặc trưng của bộ môn cũng như những ưu điểm nổi bật của công nghệ thông tin và truyền thông, giáo viên và học sinh có thể ứng dụng công nghệ này vào đổi mới phương pháp dạy – học, từng bước nâng cao chất lượng bộ môn ở nhiều hình thức, các khâu khác nhau trong quá trình dạy học.

Đối với học sinh: Khi được học những tiết học lịch sử có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin sẽ góp phần tạo biểu tượng, bồi dưỡng kiến thức và làm phong phú thêm sự hiểu biết của học sinh về lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc.  Trong dạy học lịch sử, để học sinh có thể đi từ nhận thức “cảm tính” đến nhận thức “lí tính”, trước hết các em phải có được biểu tượng lịch sử – những hình ảnh về sự kiện, hiện tượng được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học thật hiệu quả, kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp giáo viên thực hiện tốt công việc này.

  1. Các biện pháp tiến hành ứng dụng CNTT trong dạy lịch sử

Để việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử hiệu quả, có rất nhiều hình thức nhưng trong khuôn khổ của đề tài này tôi đưa ra 1 số vấn đề như sau:

3.1. Sử dụng hình  ảnh để minh họa cho nội dung bài học:

Một trong những lợi thế của môn học Lịch sử là có rất nhiều tư liệu bằng hình ảnh như các bức hoạ, ảnh chụp đặc biệt là các bộ phim tài liệu. Học Lịch sử là học quá khứ nên học sinh rất thích được xem những hình ảnh thực tế của quá khứ làm cho các em có cảm giác như đang sống cùng với thời kì lịch sử đó. Hình ảnh là nguồn tư liệu phong phú nhất khi ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, có thể nói bài học nào có ứng dụng công nghệ thông tin thì bài học đó đều có hình ảnh minh họa. Tuy nhiên giáo viên không vì phong phú mà đưa quá nhiều hình ảnh, hình ảnh không gần với bài học sẽ dẫn tới  không thể làm cho học sinh khắc sâu kiến thức. Nếu khai thác tốt hình ảnh sẽ hấp dẫn được học sinh, giúp học sinh hiểu sâu hơn bài học, nhưng ngược lại cũng không tránh khỏi sự tò mò của học sinh dẫn tới sao nhãng việc tiếp thu kiến thức. Có hai hình thức sử dụng hình ảnh:

  1. Hình ảnh minh họa cho nội dung kiến thức:

Sau khi giáo viên đã trình bày song phần nội dung kiến thức của từng mục, từng bài giáo viên đưa ra các hình ảnh minh họa cho nội dung bài vừa học song, qua đó các em nhận thức được sâu hơn vấn đề.

Ví dụ 1: Tiết 8 – Bài 7: Các nuớc châu Phi .Phần I: Tình hình chung.

Trước hết giáo viên hỏi học sinh. Hiện nay Châu Phi đang đứng trước những vấn đề khó khăn như thế nào?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt lại những khó khăn cơ bản mà Châu Phi đang phải gánh chịu: xung đột sắc tộc, tôn giáo, bệnh tật, đói nghèo, bùng nổ dân số…

Sau đó giáo viên cho học sinh xem 1 số hình ảnh để minh họa thêm về những khó khăn, nghèo đói của Châu Phi trong giai đoạn hiện nay, từ đó giúp học sinh khắc sâu thêm được kiến thức bài học.

* Ví dụ 2: Tiết 14 – Bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, Mục I: Những thành tựu chủ yếu.

Sau khi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đưa ra những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực công nghệ với những thành tựu về: công cụ sản xuất mới, nguồn năng lượng mới, vật liệu mới, chinh phục vũ trụ, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…Giáo viên đưa ra 1 loạt các hình ảnh để minh họa cho nội dung kiến thức vừa học.  Bằng lời nói sinh động, hấp dẫn học sinh dễ khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài có hứng thú học tập bộ môn                                                                  

Có thể so sánh nếu như khi dạy 2 bài trên  không sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin  giáo viên vẫn có thể truyền đạt hết kiến thức cho học sinh nhưng để học sinh hình dung được bộ mặt thật, những khó khăn thách thức của châu Phi hiện nay là rất khó, bởi học sinh có thể chỉ biết được trên sách vở, lý thuyết. Hoặc qua các hình ảnh học sinh mới biết được con tầu cao tốc, những mạng lưới giao thông hiện đại của các nước phát triển, sự tiến bộ về thông tin liên lạc… so sánh những tiến bộ kỹ thuật trong từng thập kỷ.

  1. Hình ảnh khắc sâu kiến thức:

Giáo viên đưa ra hình ảnh và hướng dẫn học sinh khai thác hình ảnh sau đó rút ra những vấn đề kiến thức của bài học, nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm. Vấn đề này không khó nhưng giáo viên lại không hay chú ý thường bỏ qua hoặc làm thay cho học sinh.

*Ví dụ 1: Tiết 31 – Bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950).  

Mục II: Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16:

Giáo viên sử dụng hình “Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp”  trình chiếu trên màn hình lớn hướng dẫn học sinh khai thác nội dung kiến thức cơ bản, kèm theo câu hỏi gợi mở: Em biết gì về bức ảnh lịch sử này? Bức ảnh chụp ai? Theo em hiện nay bức ảnh gốc đang được trưng bày ở đâu? Quan sát bức ảnh trên em có nhận xét gì về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược?

                     

Sau khi học sinh trao đổi, trả lời xong, giáo viên nhận xét và kết luận về nội dung bức hình: Bức hình cả lớp đang xem trên màn hình là ảnh chụp “Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp”. Bức ảnh do bác sĩ quân y Trần Hạnh chụp ngày 20/12/1946. Người trong ảnh là chiến sĩ Nguyễn Văn Thiềng, còn gọi là Trần Thành, quê ở phố hàng Vôi (Hà Nội). Bức ảnh gốc hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng quân đội Việt Nam. Bức ảnh phản ánh một hiện thực lịch sử sinh động về các chiến sĩ trung đoàn Thủ đô quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Hành động quyết tử của chiến sĩ Trần Thành mãi mãi là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm cho các thế hệ thanh niên mai sau học tập”.

Như vậy, việc trình chiếu bức tranh trên mành hình lớn để hướng dẫn học sinh quan sát, miêu tả kết hợp với câu hỏi gợi mở sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập. Và nếu như không dạy ứng dụng công nghệ thông tin thì giáo viên cũng chỉ cần khai thác những nội dung trong sách giáo khoa là đủ thì học sinh dễ cảm thấy nhàm chán và giờ học không đạt được kết quả cao. Sau khi học sinh quan sát, suy nghĩ và trả lời, giáo viên kết luận sẽ hình thành trong đầu các em biểu tượng rõ nét, chân thực về hình ảnh về các chiến sĩ quyết tử quân Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Nhờ đó, các em sẽ khắc sâu, nhớ lâu kiến thức về sự kiện lịch sử này, không nhầm lẫn với các nhân vật và sự kiện lịch sử khác.

Ví dụ 2 : Tiết 29 – Bài 24.  Phần II. Bước đầu xây dựng chế độ mới.

Phần  III.  Giải quyết giặc  đói, giặc dốt và khó khăn về tài chính. 

Giáo viên chụp bức ảnh Hình 42 (Sách giáo khoa). Nhân dân góp gạo chống giặc đói và trình chiếu trên màn hình lớn, hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét về phong trào cứu đói của nhân dân ta trong những ngày đầu sau cách mạng Tháng Tám năm 1945.

                 

Khi khai thác, giáo viên nên bổ sung kiến thức, cụ thể hoá kiến thức bằng lời giảng hình ảnh. Bằng những câu chuyện cụ thể để tạo ấn tượng, làm bài giảng thêm sinh động hấp dẫn: “ Hũ gạo cứu đói “, “ Ngày đồng tâm “: Mỗi gia đình, mỗi bữa bớt khẩu phần ăn của cả nhà một nắm bỏ vào hũ, một tháng cả nhà nhịn ăn một bữa…… Giáo viên kể chuyện về tấm gương“ Nhịn ăn của chủ tịch nước” trong những ngày này để giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho các em. Tất cả mọi người, tất cả mọi nhà đều“  lập hũ gạo cứu đói”, đều thực hiện“ Ngày đồng tâm” khi hũ gạo nhà mình đầy, đem tới nơi quyên góp  gạo chung của cả làng….( giáo viên vừa giảng vừa cho học sinh trực quan vào trung tâm bức ảnh) chỗ gạo quý hiếm chắt chiu ấy, sẽ được đưa tới nơi đói gay gắt hơn, để đồng bào có được miếng cơm, bát cháo cho qua đi những ngày khốn khó. Đấy chính là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta: “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, hay“ Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.” ” Trong gian nan, khốn khó, càng sáng bừng lên nghĩa cử “ Một nắm khi đói bằng một gói khi no”…               

Khi dạy về giải quyết nạn dốt. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh trên màn hình lớn và cùng trao đổi thảo luận.

 

Giáo viên giải thích để học sinh hiểu: “ Bình dân học vụ” là gì? Là học tập, là nghĩa vụ của mọi người dân – có học – có kiến thức , mới xây dựng được chính quyền mới – xây dựng được cuộc sống mới … Một lớp bình dân học vụ ban đêm : Có trẻ, có già, có trai, có gái, đầy đủ mọi lứa tuổi, giáo viên có thể là những cô, cậu 9,10 tuổi, học sinh có thể là những cụ già 60,70 tuổi, đang say sưa học bài –  lần đầu tiên nắn nót viết chữ “ o tròn như quả trứng gà”, mà miệng cũng tròn, mắt cũng tròn vì ngạc nhiên và sung sướng… ánh sáng của những ngọn đèn dầu hôm nay, sẽ làm bừng sáng tương lai của dân tộc ở ngày mai…(giáo viên có thể kể thêm chuyện :”Cổng mù” trong phong trào xoá nạn mù chữ trong những ngày đầu tiên này…)

3.2. Sử dụng các đoạn phim tư liệu để minh họa cho nội dung bài học:

Có thể nói các thước phim tư liệu là nguồn tư liệu sống trong dạy học lịch sử bởi qua những thước phim này các em biết luôn được về thời kì quá khứ hào hùng của dân tộc. Tùy theo nội dung của bài giáo viên có thể đưa vào những đoạn phim tư liệu, những bài hát phù hợp làm phong phú thêm bài học, đồng thời thay đổi không khí trong một giờ học Lịch sử. Có hai hình thức sử dụng đoạn phim tư liệu:

  1. Xem phim tư liệu bổ sung kiến thức vừa học.

* Ví dụ 1: Tiết 19-  Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài 1919 – 1925.

Sau khi trình bày cho học sinh các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, Liên Xô và sang Trung Quốc giáo viên cho học sinh xem đoạn video về hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ khi Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước đến khi Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương của Lê Nin và tìm được con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam….Sau khi xem xong đoạn video này học sinh sẽ bổ xung và khắc sâu thêm kiến thức về hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc.

*Ví dụ 2: Tiết 36- Bài 27- Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954).

Sau khi dạy hết bài giáo viên có thể cho học sinh nghe bài hát “Giải phóng Điện Biên”, khí thế hào hùng của lời bài hát cùng những hình ảnh minh họa trong bài hát một lần nữa khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh, gây tâm lí thoải mái, hứng thú trong giờ học, làm cho giờ học Lịch sử bớt nhàm chán bởi những con số và sự kiện…

  1. Xem phim tư liệu rút ra những nội dung cơ bản của bài học.

* Ví dụ 1: Tiết 28 – Bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa .Phần III. Giành chính quyền trong cả nước.

Dạy tới phần nội dung của Tuyên ngôn độc lập, giáo viên dừng lại cho học sinh xem đoạn video đọc Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh ” Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ, suy rộng ra câu ấy có ý nghĩa là, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng  về quyền lợi, đó là những quyền lợi không ai chối cãi được….. Câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh ” Tôi nói đồng bào nghe rõ không” làm cho biển người đang sôi lên dường như lắng xuống… Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ  mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế dộ quân chủ cộng hòa. …..Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành 1 nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Sau khi học sinh xem song giáo viên có thể hỏi ? Nội dung bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam phản ánh những vấn đề gì? Vì học sinh vừa được xem song nên các em có thể rút ra được ngay nội dung cơ bản của bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, nó là sự kế thừa và tiếp nối những mặt tích cực của bản tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Pháp, bản tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ để Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên một bản Tuyên ngôn hào hùng cho dân tộc Việt Nam, khẳng định với thế giới quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam…. Hơn nữa các em được nghe thực tế giọng  của Bác Hồ đọc tuyên ngôn, các em sẽ phấn khởi hơn hứng thú hơn khi học những phần sau và dễ khắc sâu kiến thức của bài.

* Ví dụ 2: Tiết 31 –  Bài 25- Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950). Phần I-Mục 2: Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng.

Khi dạy tới đoạn chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nếu như trước đây dạy bình thường giáo viên chỉ khai thác nội dung này qua đoạn kênh chữ trong sách giáo khoa Trang 104 học sinh chỉ biết tới lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến qua giọng đọc trầm bổng của giáo viên, nhưng có ứng dụng công nghệ thông tin giáo viên cho học sinh xem Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến bằng chính nét chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lời đọc của Người, học sinh được mắt thấy tai nghe, các em sẽ hứng thú nhiều khi học tập và cô đọng lại kiến thức của bài giảng trong học sinh.

3.3.Xây dựng và kết hợp sử dụng tranh, ảnh,  đoạn phim để minh họa cho nội dung bài học:

  Tôi  sử dụng một số bức ảnh và một vài đoạn phim ngắn để minh hoạ cho Bài 24: Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân(1945-1946) như sau:    

 3.3.1. Chèn các bức ảnh vào bài học:

  1. Cách làm: Để chèn bức ảnh vào bài giảng ta cũng sử dụng một số thao tác trên Powerpoint.

Trước hết ta cần có các bức ảnh thật hoặc một đoạn phim hoặc ảnh trang máy ảnh kỹ thuật số.Nếu là bức ảnh bằng giấy thì ta phải sử dụng máy quét để quét nó vào trong máy vi tính sau đó bắt đầu ta mở một Slide trên Powerpoint rồi chọn vị trí cần chèn rồi chọn Insert trên thanh công cụ.

Chọn Picture/ From file/ chỉ ra file chứa ảnh rồi chọn bức ảnh cần chèn và nhấn Insert. Với cách làm như trên tôi chèn 2 bức ảnh vào bài này, đó là bức ảnh ”Nạn đói năm 1945” và bức ảnh ”Những đồng giấy bạc đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ công hoà”.

  1. Sử dụng:

Hình ảnh: ”Nạn đói 1945” hình ảnh này được sử dụng khi giáo viên dạy phần I: Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám. Mục 1- Khó khăn.

–   Khi nói tới những khó khăn mà chính quyền cách mạng gặp phải sau ngày 2/9/1945 cụ thể là về xã hội thì nạn đói cuối 1944 đầu 1945 chưa khắc phục được thì giáo viên đưa ra hình ảnh những người bị chết đói nằm trên đường và những thân hình gầy còm đang nằm trên đường cạnh cây cột mốc ”Thái Bình 7 km” những hình ảnh ấy sẽ giúp HS hình dung một cách chân thực, rõ nét về nạn đói của nước ta trong năm 1945, đồng thời cũng thấy được sự độc ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, dưới sự thống trị tàn bạo của chúng đã làm cho gần 2 triệu đồng bào ta bị chết đói. Hậu quả không chỉ làm cho dân số, nguồn nhân lực nước ta bị suy giảm mà còn gây ra hậu quả lâu dài về mặt xã hội cho đất nước ta mà chúng ta còn phải khắc phục sau cách mạng tháng 8 năm 1945. Hình ảnh này giúp HS hiểu rõ hơn những khó khăn, thử thách mà Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh phải đương đầu sau cách mạng.

Hình ảnh thứ 2 là ” Những tờ giấy bạc của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” đó là 2 tờ giấy bạc 1 đồng và 10 đồng của kho bạc nhà nước. Bức ảnh này được sử dụng khi dạy phần III mục 2. Giải quyết khó khăn về tài chính.

Khi dạy mục này GV chiếu cho HS xem hình ảnh này kết hợp với lời giảng.

– Sau phong trào ” Tuần lễ vàng” và  quỹ độc lập thì sự khó khăn về tài chính do thiếu tiền, ngân sách trống rỗng đã được khắc phục. Trên cơ sở ấy thì chính quyền cách mạng đã cho in giấy bạc mới và phát hành trong cả nước từ ngày 23 thàng 11 năm 1946. Đây chính là những tờ giấy bạc đầu tiên của chính quyền độc lập nó thể hiện sự tự chủ của nhân dân ta về mặt kinh tế đồng thời cũng là một thành quả lớn của nhân dân ta trong quá trình đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân. Điều này sẽ tạo ra cho các em biểu tượng sinh động về nền tài chính nước nhà, về chính quyền cách mạng trong thời kỳ trứng nước.

     3.3.2. Chèn đoạn phim tài liệu để minh hoạ.

Ta có thể lấy một số đoạn phim sau để minh hoạ.

Đoạn 1: Quân đồng minh kéo vào nước ta

Đoạn 2: Bầu quốc hội khoá I

Đoạn 3: Giải quyết nạn đói

Đoạn 4: Giải quyết nạn dốt

  1. Cách làm:

Đầu tiên  ta cần chuẩn bị phần mềm cắt phim và chuẩn bị những đoạn phim phục vụ bài giảng

Ví dụ: Ta cần cắt  đoạn phim đó từ một phim tài liệu Hồ Chí Minh – Chân dungmột con người của hãng phim tài liệu Việt Nam.

Sử dụng phần mềm Hêrosoft 2.1 để cắt phim.

Để cắt phim ta làm như sau:

– Mở phim bằng Hêrosof 2 .1

– Chọn nút cắt ( ….) sau đó dùng nút (… ) để cắt đầu đoạn phim, nút ( …) để cắt cuối

đoạn theo đúng nội dung cần minh họa.

Ấn nút MPG để lưu phim vào một thư mục nào đó.

Sau đó ta chèn phim vào bài giảng bằng cách.

– Chọn một Slide trên Powerpoint.

– Tạo nút liên kết, có thể tuỳ chọn trong AutoShape.

– Nhấn chọn nút đó rồi nhấn chuột phải chọn Hyperlink.

-Sau đó chỉ đến thư mục chứa đoạn phim vừa lưu rồi nhấn nút OK.

Với cách làm như vậy ta lần lượt chèn được cả  bốn đoạn phim vào giáo án.

  1. Sử dụng để giảng dạy:

  * Đoạn thứ nhất: Quân đồng minh kéo vào nước ta Khi dạy mục I nói về những khó khăn của nước ta về chính trị đó là quân đồng minh lấy danh nghĩa giải giáp quân đội Nhậtlúc vào nước ta, thì giáo viên cho học sinh theo dõi đoạn phim này để các em thấy được: Ở miền Bắc nước ta có 20 vạn quân Tưởng kéo vào theo sau chúng là bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu phá hoại cách mạng nước ta thể hiện qua khẩu hiệu “Diệt cộng. ”cầm Hồ’ của chúng. Bọn Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền non trẻ của chúng ta. Đây là một nguy cơ lớn đối với chính quyền cách mạng. Ở phía Nam là hàng vạn quân Anh và núp bóng chúng là hàng nghìn tên lính Pháp đang lăm le quay trở lại xâm lược nước ta. Đến ngày 23/9 được quân Anh tạo điều kiện thì thực dân Pháp đã chính thức nổ súng xâm lược trở lại nước ta ở Nam Bộ.

Như vậy thực chất quân đồng minh vào nước ta là để lật đổ chính quyền cách mạng

phục vụ mưu đồ cho bọn đế quốc, thực dân. Đây là một thách thức rất lớn mà chính

quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt.

Sau khi theo dõi đoạn phim trên sẽ giúp các em học sinh nắm bắt nhanh và khắc sâu kiến thức của bài học.

  * Đoạn phim thứ hai ”Bầu quốc hội khoá I”

Đoạn này được sự dụng ở phần II Bước đầu xây dựng chế độ mới .

Sau khi đã giới thiệu ngày 6/1/1946 cả nước tiến hành tổng tuyển cử bầu quốc hội khoá I giáo viên cho học sinh theo dõi đoạn phim này để thấy được không khí nô nức của người dân khi cầm lá phiếu trên tay lần đầu tiên, thể hiện quyền tự do, dân chủ của mình đồng thời cũng là lá phiếu của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ủng hộ cách mạng với hơn 90% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu của khắp   ba miền Bắc – Trung – Nam vào quốc hội đầu tiên của nhân dân ta – biểu tượng của khối đoàn kết toàn dân tộc. Sau đó đến ngày 02/3/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên thông qua danh sách Chính phủ và lập ban soạn thảo Hiến pháp. .

Đoạn phim này sẽ tạo cho các em biểu tượng chân thực về chính quyền cách mạng và sự thông minh, khôn khéo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

   * Đoạn thứ ba:  Phong trào giải quyết nạn đói

Đoạn này được sử dụng khi dạy Phần II mục 2 giải quyết nạn đói Đoạn phim sẽ cho các em thấy nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi ”Nhường cơm sẻ áo” và ”Hũ gạo cứu đói” của chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sôi nổi, nhiệt tình thể hiện sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân ta cùng nhau đùm bọc qua những ngày khốn khó với tinh thần tương thân, tương ái đồng bào ta đã chia sẻ từng nắm gạo giúp đồng bào vượt qua cơn hoạn nạn. Khi xem đoạn  phim này sẽ giúp các em được hoà mình sống cùng với toàn dân tộc trong những ngày khó khăn và cảm nhận được sự ấm áp của lòng nhân ái, sự phấn khởi tin tưởng của toàn dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh.

   * Đoạn phim thứ 4 ”Giải quyết nạn dốt” nói về một lớp bình dân học vụ và phong trào học tập của nhân dân ta trong những năm 1945 – 1946. Đoạn này được sử dụng khi dạy Phần III mục : Khó khăn về kinh tế.

Khi dạy mục này sau khi giới thiệu sự kiện ngày 8/9/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập như Bình dân học vụ và kêu gọi xoá nạn mù chữ. Giáo viên cho HS xem đoạn phim này để các em thấy sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân thông qua việc có hàng vạn người tham gia cổ vũ rầm rộ cho phong trào diệt giặc dốt. Đồng thời mọi tầng lớp nhân dân từ các cụ già cao tuổi đến các em chăn trâu tích cực tham gia học tập để biết chữ  thậm chí có các bà mẹ người dân tộc thiểu số còn địu cả con nhỏ đến lớp học. Tiếng đánh vần i tờ từng chữ cái của những học viên lớp Bình dân học vụ cho ta thấy niềm xúc động, sự náo nức của  một thời kì lịch sử của dân tộc trong những ngày đầu mới giành độc lập.

Một lần nữa đoạn phim này sẽ tạo cho các em ấn tượng sâu đậm về bối cảnh đất nước trong những năm 1945 – 1946. Qua đó giúp các em thêm phấn khởi, tin tưởng vào công cuộc kháng chiến của nhân dân ta đồng thời ra sức học tập để noi gương thế hệ cha anh đi trước.

Tóm lại việc ứng dụng công nghệ thông tin có rất nhiều cách khác nhau và đem lại nhiều tiện ích trong quá trình dạy học. Trên đây là một vài kinh nghiệm, thực tế giảng dạy của bản thân đã đem lại kết quả tích cực trong quá trình dạy học

3.4. Xây dựng và  sử dụng lược đồ để khai thác nội dung bài học

Ưu thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử là bằng các hiệu ứng giáo viên có thể làm cho học sinh thấy được sự sinh động trong diễn biến các trận đánh và thấy được sự quyết liệt trong mỗi sự kiện… Một bản đồ động sẽ hứng thú hơn nhiều so với bản đồ tĩnh, tuy nhiên việc thiết kế một bản đồ điện tử là một vấn đề rất khó làm đối với giáo viên. Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bài trong chương trình của bộ môn Lịch sử đặc biệt là các bài có diễn biến của phong trào cách mạng, các trận đánh  lớn.  tôi  xin nêu ra một trường hợp ứng dụng cụ thể đó là:

        Để dạy  Bài 19: Phong trào cách mạng trong những năm  1930 – 1935. tôi  sử dụng bản đồ động để mô tả minh hoạ cho phong trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh và sơ đồ điện tử để củng cố bài học. Tôi  xin giới thiệu cách làm và sử dụng bản đồ động và sơ đồ điện tử trong bài.

3.4.1.  Xây dựng và sử dụng bản đồ động

  1. Xây dựng: Để xây dựng và sử dụng bản đồ động thì cần có một bản đồ trên giấy của phong trào hoặc là bản đồ điện tử có sẵn. Ở đây tôi sử dụng bản đồ trong sgk (trang 92).

     Bước 1: Trước hết ta dùng một máy quét nối với máy tính để quét bản đồ vào trong máy tính. Sau đó dùng các kỹ thuật vẽ trong Powerpoint để chỉnh sửa bản đồ theo nhu cầu, mục đích sử dụng (có thể phóng to, thu nhỏ hoặc cắt bớt một số phần).

     Bước 2: Vẽ các ký hiệu trên bản đồ.

– Công việc này nhằm tạo ra các ký hiệu, cho xuất hiện theo ý đồ định sẵn phù hợp với diễn biến của phong trào theo đúng trình tự.

– Để vẽ các ký hiệu này ta vào Powepoint/AutoShaper rồi chọn các ký hiệu phù hợp. Ở đây tôi chèn hình ngôi sao n cánh để mô tả căn cứ cách mạng tại Thanh  Chương và chọn hình ngôi sao màu vàng. Chèn hình đốm lửa để mô tả những địa điểm lan rộng của phong trào, chọn nền màu xanh.

Hình búa liềm, màu vàng để mô tả những nơi giành được chính quyền.

+ Hình lá cờ để biểu thị những nơi có công nhân hưởng ứng phong trào.

Sau khi đã vẽ xong các ký hiệu theo đúng ý đồ thì ta đặt hiệu ứng xuất hiện theo trình tự diễn biến của phong trào.

–  Cách đặt hiệu ứng như sau:

+  Chọn ký hiệu cần đặt hiệu ứng ví dụ ngôi sao.

+ Ta chọn ngôi sao sau đó nháy chuột vào Slide show

+ Chọn Custom Animation …

+ Chọn Add Effect/Entrance.

Sau đó tuỳ chọn kiểu xuất hiện đối với ngôi sao là căn cứ khởi nghĩa Thanh Chương thì ta nên chọn hiệu ứng nhấp nháy to dần. Các ký hiệu còn lại ta đặt hiệu ứng theo cách tương tự như vậy sao cho các hiệu ứng của các ký hiệu xuất hiện theo đúng trình tự diễn biến của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

  1. Sử dụng: Sử dụng bản đồ động để minh họa cho mục II phong trào cách mạng 1930 – 1931.

Khi dạy đến phong trào cách mạng ở hai tỉnh Nghệ An  và Hà Tĩnh trong tháng 9 /1930 thì giáo viên tường thuật diễn biến phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh cùng với việc minh họa bằng bản đồ trên máy.

Đầu tiên phong trào xuất hiện ở Thanh Chương. Giáo viên nháy chuột thì ngôi sao nhấp nháy lớn dần ở Thanh Chương biểu thị cho sự bùng nổ của phong trào.

Sau đó phong trào nhanh chóng lan rộng ra các địa phương khác nhau như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên … Cùng với những lời giảng ấy thì trên bản đồ sẽ lần lượt xuất hiện các đốm lửa biểu thị sự lan rộng của phong trào ra các địa phương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.Trong đó tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình của 8.000 nông dân huyện Thanh Chương với khẩu hiệu “đả đảo đế quốc”

đả đảo Nam triều”. Phong trào này còn nhận được sự hưởng ứng của công nhân ở Vinh, bến Thuỷ. Đến đây giáo viên cho xuất hiện hai lá cờ đỏ tại hai địa điểm ấy để cho thấy tinh thần đoàn kết của giai cấp công nhân.

Với quy mô to lớn, tính chất quyết liệt thì phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã phá vỡ được hệ thống chính quyền địch ở địa phương nhiều nơi. Đến đây giáo viên cho nháy chuột để biểu tượng búa liềm hiện ra tại những nơi giành được chính quyền như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc … đồng thời giáo viên giải thích đó là chính quyền của cấp uỷ đảng ở thôn xã lãnh đạo nhân dân tự quản lý, chăm lo đời sống chính trị – kinh tế – văn hóa của chính quyền nên gọi là Xô Viết.

Việc sử dụng bản đồ động trong bài này cũng như các bài khác có nội dung liên quan đến diễn biến các phong trào sẽ góp phần tăng tính trực quan, sinh động giúp cho các em có thể nhận thức lịch sử một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn, sâu sắc hơn.

Tương tự khi dạy Tiết 36 Bài 27 – Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc(1953-1954). MụcII. 2: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954).

Giáo viên hỏi học sinh:  “Vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương? Sự hùng mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được biểu hiện như thế nào?” , giáo viên trình chiếu cho các em quan sát lược đồ khắc họa về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh của quân Pháp ở đây,… kết hợp với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề,… Lược đồ được xây dựng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có hiệu ứng sinh động, kèm theo hình ảnh và đoạn phim tư liệu miêu tả về cứ điểm, nên học sinh cảm nhận được các sự kiện lịch sử sâu sắc. Phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài như trên sẽ giúp các em hiểu rằng, trước những đòn tiến công quyết liệt của quân dân ta, Nava đã quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, chấp nhận giao chiến với ta. Điều này xuất phát từ nhận định: Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn, bao quanh toàn là đồi núi trùng điệp, nhưng lại là “chìa khóa” để bảo vệ Thượng Lào và chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc Việt Nam. Đối với Việt Minh, nơi đây quá xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở nên tiếp tế sẽ khó khăn; lúc này ta chỉ có thể sử dụng lực lượng khoảng 1 đại đoàn, lại không thể sử dụng pháo cỡ lớn được, cùng lắm là pháo 75mm; ngoài ra, nếu chẳng may thất bại, Pháp sẽ dễ dàng mở một con đường tháo chạy sang Lào… Từ nhận định này, được sự giúp đỡ của Mĩ, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm hùng mạnh với 49 cứ điểm, chia làm 3 phân khu lớn là phân khu Bắc, phân khu Trung tâm và phân khu Mường Thanh. Với số quân tinh nhuệ là 16.200 tên, lại được trang bị những loại vũ khí hiện đại nhất, nên cả Pháp và Mĩ đều nhận định: Điện Biên Phủ là một “pháo đài bất khả xâm phạm”.

        

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trên cơ sở hiểu rõ lí do vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm hùng mạnh và biểu hiện về sự hùng mạnh của nó, học sinh cũng hình thành được khái niệm, thuật ngữ mới: Cứ điểm Điện Biên Phủ là gì? Khi dạy tới phần diễn biến của chiến dịch qua từng đợt với các phương tiện kỹ thuật hiệu ứng hỗ trợ giáo viên có thể cho học sinh thấy được bức tranh sống động của chiến dịch Điện Biên Phủ với những đợt tấn công của quân ta, sự viện trợ, rút chạy của Pháp-Mĩ trên chiến trường Điện Biên Phủ. Một lần nữa ta khẳng định một bản đồ động gây hứng thú nhiều với học sinh so với một bản đồ tĩnh.

 

 

 

 

 

            

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.5. Sử dụng hệ thống bảng biểu điện tử để khai thác nội dung  bài học:

Sử dụng bảng niên biểu, bảng so sánh, giúp các em khái quát nội dung sau mỗi phần, mỗi bài, mỗi giai đoạn lịch sử….Hình thức này phù hợp với phương pháp thảo luận nhóm, so sánh sự khác nhau….giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu sau đó trình bày và giáo viên đưa ra kết luận cuối cùng qua các bảng biểu.

*Ví dụ 1:

Sau khi dạy song Tiết 24 – Bài 20 – Cuộc vận động  dân chủ 1936-1939.  giáo viên hướng dẫn học sinh So sánh sự khác nhau giữa cao trào dân chủ 1936 – 1939 với phong trào cách mạng 1930 – 1931?

 

 

 

Nội dung 1930 – 1931 1936 – 1939
 Kẻ thù Đế quốc, phong kiến( chiến lược) Phản động thuộc địa Pháp và tay sai ( sách lược)
Mục tiêu Độc lập dân tộc, người cày có ruộng ( lâu dài) Tự do, cơm áo, hoà bình( trước mắt)
Hình thức tập hợp lực lượng Bước đầu thực hiện liên minh công – nông, tập trung chủ yếu ở Nghệ An – Hà Tĩnh Thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương
Hình thức đấu tranh Bãi công, biểu tinh, khởi nghĩa vũ trang Hợp pháp công khai, nửa hợp pháp, nửa công khai
Lực lượng tham gia Chủ yếu là nông dân, công nhân Đông đảo các giai cấp tầng lớp.

* Nhận xét:

– Do hoàn cảch thế giới và trong nước của mỗi thời kì khác nhau do đó Đảng ta có chủ trương, sách lược, hình thức tập hợp lực lượng, hình thức đấu tranh khác nhau phù hợp với từng thời kì.

– Chủ trương của đảng thời kì 1936 – 1939 chỉ mang tính chất sách lược song rất kịp thời và phù hợp với tình hình, tạo được cao trào đấu tranh sôi nổi. Điều đó chứng tỏ Đảng ta đã trưởng thành đủ khả năng đối phó với mọi tình hình diễn biến phức tạp, đưa cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển.

*Ví dụ 2: Tiết 39 – Bài 29 : Cả nước trực tiếp chiến đấu chống  mĩ cứu nước. (1965-1973).

Sau khi kết thúc mục 2 Phần I – Chiến đấu chống chiến tranh cục bộ của đế quốc Mĩ ở miền nam (1965-1968). Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh sự khác nhau giữa chiến tranh cục bộ và chiến tranh đặc biệt. Sau khi học sinh trình bày giáo viên đưa ra những nội dung theo yêu cầu….

 

 

 

 

Chiến tranh đặc biệt  Chiến tranh cục bộ
Âm mưu Tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của cố vấn quân sự Mỹ, vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ, âm mưu cơ bản là : “ Dùng người Việt đánh người Việt”…     Được tiến hành bằng quân viễn chinh Mỹ + chư hầu và quân ngụy tay sai, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng. Tiến hành hàng loạt cuộc hành quân “ tìm diệt ” và “ bình định ” vào “ Đất thánh Việt cộng” .
Phạm vi Được tiến hành chỉ ở miền Nam Tiến hành ở miền Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Qui mô Lớn và ác liệt hơn nhiều so với Chiến tranh đặc biệt

Qua 2 ví dụ trên ta có thể thấy lợi ích của giáo viên và hứng thú của học sinh qua dạng bài này là: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, trả lời và đến nội dung nào giáo viên bấm máy kênh chữ của nội dung đó hiện ra, học sinh vừa nghe, ghi được nội dung chính theo yêu cầu. Tuy nhiên dạng bài này đòi hỏi giáo viên phải có kỹ thuật để thao tác các hiệu ứng nếu không dẫn tới trường hợp sau khi học sinh trình bày hết các nội dung giáo viên chốt ý và cuối cùng mới đưa ra bảng hệ thống kiến thức, vừa không khoa học, mặt khác học sinh cũng không kịp thời theo dõi, dễ mất hứng thú học tập bộ môn của học sinh.

     3.6. Xây dựng và sử dụng sơ đồ điện tử để minh họa, củng cố bài học.

   Phương pháp này cũng có thể được áp dụng trong rất nhiều bài, tuy nhiên tôi chỉ nêu ra ví dụ  bài 19: Phong trào cách mạng 1930 – 1935. Dùng để củng cố bài học.

  1. Cách xây dựng:

Trước hết ta dùng các thao tác trên Power point để vẽ các bộ phận của sơ đồ như sau:

 

 

 

 

 

Xô Viết Nghệ Tĩnh               H 5

Phong trào 1930 – 1931           H4

 

 

 

Mâu thuẫn                          H3

 

 

Nhân dân ta với thực dân Pháp  H 2

 

 

 

Hậu quả khủng hoảng kinh tế      H1

 

Để vẽ được sơ đồ như trên ta nháy chuột vào các ô có hình chữ nhật và hình mũi tên trên màn hình rồi vẽ lên màn hình.

Để viết chữ vào sơ đồ ta nháy vào hình chữ nhật cần viết rồi nhấn chuột phải chọn Add text rồi viết chữ theo nội dung như trên.

Sau đó ta chọn hiệu ứng xuất hiện lần lượt cho các bộ phận trong sơ đồ từ thấp đến cao (cách làm giống như ở phần xây dựng bản đồ động ở trên).

  1. Cách sử dụng:

Sau khi tạo xong sơ đồ ta sử dụng để củng cố như sau: Qua bài này chúng ta thấy rằng do hậu quả khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 thực dân Pháp đã tăng cường bóc lột nhân dân ta (giáo viên nhấp chuột để H1 và H2 hiện ra) điều đó đã làm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp càng trở lên gay gắt hơn.

Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của phong trào cách mạng 1930 – 1931 ( cho H3 hiện ra) trong đó đỉnh cao là việc thành lập chính quyền cách mạng theo kiểu Xô Viết ở các địa phương 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với nhiều chính sách tích cực, tiến bộ. (cho H4 xuất hiện). Vậy chính quyền ấy có ý nghĩa gì, phong trào cách mạng tiếp sau diễn ra như thế nào thì tiết sau chúng ta tìm hiểu tiếp còn tiết này thì dừng lại ở đây.Việc sử dụng sơ đồ như trên giúp các em nắm vững được nội dung cốt lõi của bài một cách nhanh chóng, đơn giản có thể khắc sâu được kiến thức cho các em. Phương pháp này cũng có thể sử dụng cho nhiều bài học khác nữa và cho hiệu quả cao.

  1. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Qua thực tế áp dụng cho thấy phương pháp này đã đem lại nhiều hiệu quả cao trong dạy học như:

– Tạo ra tính trực quan, sinh động giúp các em dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức.

– Xoá bỏ cảm giác khô khan giáo điều trong các giờ học Lịch sử để môn học này trở nên gần gũi với các em hơn.

– Kết quả thực tế cho thấy đa số các em học sinh đều tỏ ra hứng thú với phương pháp này, tạo ra sự tập trung chú ý cao độ, từ đó giúp các em khắc sâu biểu tượng về sự kiện hiện tượng lịch sử, từ đó các em có thể thuộc bài ngay tại lớp.

– Học sinh Khá – Giỏi: nắm vững, vận dụng tốt kiến thức kỹ năng, học bài, làm bài rất tốt.

– Học sinh trung bình: nắm được kiến thức cơ bản làm bài tương đối tốt.

– Một số học sinh chưa chăm học, làm bài chưa tốt, kết quả không cao.

Từ số liệu thực tế học tập của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến ta có thể kết luận rằng: Hiệu quả của giờ học khi áp dụng phương pháp này cao hơn hẳn và có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống.

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử đã thể hiện mối quan hệ biện chứng về con đường nhận thức của học sinh đi từ “trực quan sinh động” đến“tư duy trừu tượng”. Ở đây, nhờ được quan sát hình ảnh sinh động, được nghe giảng và tư duy lịch sử mà những khoảng cách về thời gian, không gian của sự kiện dường như đang xích lại gần với khả năng nhận thức của các em hơn. Về điểm này, nhiều nhà giáo dục lịch sử đã nhấn mạnh: “Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu”. Đồng thời, việc sử dụng những loại đồ dùng trực quan có liên quan đến phương tiện kĩ thuật hiện đại không chỉ góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể cho học sinh, miêu tả bề ngoài sự kiện, mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện.

Để việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới theo yêu cầu phương hướng đổi mới có hiệu quả, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một yêu cầu cấp thiết trong công tác dạy học.  Trước đây ta thường quan niệm thiết bị dạy học môn Lịch sử chỉ nhằm minh họa làm cho kiến thức trở nên phong phú, sinh động. Ngày nay ngoài chức năng, tác dụng đó, người ta còn đặc biệt nhấn mạnh đó là một trong những nguồn nhận thức quan trọng của việc truyền bá và nhận thức lịch sử. Khai thác triệt để chức năng, tác dụng này sẽ tạo điều kiện để giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp soạn giảng. Học sinh có điều kiện chủ động tích cực tham gia vào quá trình tự nhận thức lịch sử một cách tốt nhất và có hứng thú học tập bộ môn.

  1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Để ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học có hiệu quả đòi hỏi những yêu cầu sau:

– Giáo viên phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm, biết định hướng học sinh theo mục tiêu giáo dục chung.

– Giáo viên phải biết sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học một cách thuần thục, biết thiết kế bản đồ điện tử với các hiệu ứng phù hợp với từng kiểu bài.

– Giáo viên phải cân nhắc tránh lạm dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

– Tăng cường quá trình kiểm tra việc rèn luyện kỹ năng qua các giờ học có sử dụng  ứng dụng công nghệ thông tin, giúp các em có tư duy độc lập về bài học.

– Có biện pháp phù hợp quan tâm đối với từng đối tượng học sinh ( khá, giỏi, trung bình, yếu, kém) để đảm bảo tới mức cao nhất học sinh nhận thức được kiến thức cơ bản của bài học, của cả khoá trình…

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử nhằm gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh là một việc làm rất cần thiết và đang được quan tâm, nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức Lịch sử cho học sinh trong thời kỳ hội nhập. Để làm được điều đó bản thân tôi có một số kiến nghị như sau:

– Cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm giữa đồng nghiệp về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

– Nhà trường nên trang bị máy tính, đầu chiếu đa năng tới các phòng học để ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học một cách thường xuyên.

Tuy thời gian nghiên cứu chưa nhiều, phạm vi đề tài chưa sâu. Nhưng qua thực tiễn bản thân áp dụng phương pháp này và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, tôi trân thành mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm này với các bạn đồng nghiệp. Hy vọng rằng nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học Lịch sử nói riêng và quá trình dạy học nói chung. Với năng lực bản thân có hạn cộng với kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, vì vậy sáng kiến của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để cho sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.

Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, các thầy cô giáo và các em học sinh đã giúp  tôi hoàn thành đề tài này.